Các tác dụng phụ mà xạ trị để lại trong quá trình trị liệu

Xạ trị là một phương pháp điều trị ung thư phổ biến hiện nay. Phương pháp này sử dụng một số tia bức xạ icon hóa chứa năng lượng cao như tia gamma, tia X, hoặc các hạt nguyên tử như proton, eclectron chiếu trực tiếp vào khối u nhằm hủy diệt nó.

Với sự phát triển của kỹ thuật, có nhiều phương pháp xạ trị mới được đưa vào sử dụng. Ngày nay, xạ trị trở thành một vũ khí mạnh trong việc điều trị ung thư, bởi vì nó có khả năng điều trị hết ung thư.

Hơn nữa, khi kết hợp xạ trị với các phương pháp điều trị khác như hóa trị, phẫu thuật sẽ làm tăng hiệu quả điều trị.

Tuy nhiên xạ trị để lại các tác dụng phụ nhất định trong quá trình điều trị. Cùng tìm hiểu các tác dụng phụ của phương pháp  này nhé.

Hình ảnh về xạ trị

Hình ảnh về xạ trị

Các tác dụng phụ của tia xạ

Có hai loại tác dụng phụ: cấp tính và mạn tính

Tác dụng phụ cấp tính

Thường thấy trên các tế bào có tốc độ tăng trưởng nhanh trong cơ thể như tế bào niêm mạc, tủy xương, da. Tác dụng phụ này thường xuất hiện trong hoặc ngay sau xạ trị, sẽ tăng dần nếu tiếp tục xạ và đạt mức cao nhất ở các tuần thứ 5 đến thứ 7.

Thường thì tác dụng phụ này sẽ hồi phục khi kết thúc xạ trị mà không để lại di chứng, tuy nhiên nó có thể kéo dài và nặng hơn nếu có kết hợp điều trị với hóa trị.

Tác dụng phụ mạn tính

Các tế bào chết đi có biểu hiện là teo mô, xơ hóa hoặc tạng. Diễn biến của nó chậm nhưng lại không phục hồi, có thể ảnh hưởng hoặc làm mất đi chức năng của tạng.

Các tác dụng phụ phổ biến của xạ trị

Trên da

Cấp tính: bắt đầu xuất hiện kể từ ngày thứ 7 của xạ trị, có biểu hiện như khô da, ban da, rụng lông/ tóc, khô da, da tróc vảy sau 4 -5 tuần.

Tác dụng phụ của xạ trị trên da

Tác dụng phụ của xạ trị trên da

Cách điều trị: điều trị triệu chứng và tại chỗ

  • Rửa sạch da và để khô tự nhiên
  • Sử dụng thuốc điều trị
  • Sử dụng thêm kháng sinh và thuốc giảm đau nếu có nhiễm khuẩn và đau nhiều.

Mạn tính: biểu hiện là giảm hoặc tăng sắc tố da, rụng tóc vĩnh viễn, giãn mao mạch, loét dai dẳng, xơ hóa, teo da và phù khu trú.

Cách điều trị: giữ cho da ẩm, cắt lọc ngoại khoa, tránh ánh nắng, dùng oxy cao áp, Torental, vitamin E.

Trên xương và mô mềm

Cấp tính: chủ yếu là phù khu trú

Cách điều trị: Corticosteroid, liều uống và giảm dần theo thời gian.

Mạn tính: hoại tử mô, xơ hóa mô ở vùng chiếu xạ, phù khu trú

Cách điều trị: tương tự với tác dụng phụ cấp tính: Corticosteroid đường uống, oxy cao áp, alpha- tocopherol, pentoxifylline, giữ vệ sinh, tránh nhiễm khuẩn.

Trên vùng đầu cổ: niêm mạc miệng và  khẩu hầu

Cấp tính: xuất hiện từ 1 -2 tuần sau khi xạ trị ở vùng đầu cổ

Triệu chứng: có cảm giác khó chịu ở vùng miệng, đau, chảy máu, gặp khó khăn khi ăn uống, đỏ, viêm loét niêm mạc. Sau khi ngưng xạ trị thì các triệu chứng này sẽ giảm dần và biến mất sau 2 -3 tuần. Tuy nhiên, nếu điều trị kết hợp với hóa trị thì các triệu chứng sẽ kéo dài và năng hơn.

Tác dụng phụ của xạ trị có thể gây buồn nôn

Tác dụng phụ của xạ trị có thể gây buồn nôn

Điều trị: súc miệng liên tục bằng soda, nước muối đẳng trương hoặc bicarbonate đẳng trương. Giảm đau bằng cách sử dụng thuốc tê tại chỗ. Dùng thuốc kháng nấm, kháng sinh dự phòng nếu kết quả lâm sàng có nghi vấn nhiễm nấm hay bội nhiễm vi khuẩn kèm theo.

Mạn tính

– Giãn mao mạch, mỏng niêm mạc, giảm sắc tố. Không có cách điều trị đặc hiệu, giữ gìn vệ sinh răng miệng sạch sẽ, cẩn thận.

– Loét niêm mạc kéo dài: dùng thuốc giảm đau phù hợp, sử dụng oxy cao áp giúp ngăn ngừa lộ xương và nguy cơ hoại tử xương.

– Thanh quản: khi xạ trị ở vùng thanh quản rất có khả năng gây phù, viêm thanh quản cấp, gây khó thở, thậm chí ngạt thở. Vì vậy, cần phải đánh giá các chỉ định mở khí quản cấp cứu hoặc mở khí quản dự phòng khi cần thiết.

– Cứng hàm: do xơ hóa khớp hàm, cơ cắn, thái dương. Cần phải tập luyện để phòng ngừa, cũng như điều trị trong và sau xạ trị.

– Hoại tử xương hàm

– Phòng ngừa trước xạ: chữa bệnh nha chu, nhổ răng sâu. Sử dụng máng răng có chứa fluor, chải răng bằng loại kem có chứa fluor trong và sau xạ trị.

Trên phổi

Cấp tính: viêm phổi, triệu chứng là ho khan dai dẳng sau xạ và không có biểu hiện viêm nhiễm kèm theo nào rõ rệt.

Cách điều trị: thuốc ho, khí dung ẩm, giãn phế quản, sử dụng kháng sinh nếu như có bội nhiễm. Trong trường hợp triệu chứng ho kéo dài không gian thì cân nhắc sử dụng corticosteroid.

Mạn tính: biểu hiện là xơ phổi, thường xuất hiện 1 -2 tháng sau xạ trị.

Cách điều trị: nâng đỡ là chủ yếu, thuốc giãn phế quản, thở oxy, tập vật lí trị liệu hô hấp.

Trên não

Cấp tính: buồn nôn, nôn, thay đổi ý thức, hành vi, nhức đầu do tăng áp lực nội sọ.

Cách điều trị: Dexamethasone để điều trị các triệu chứng trên, trong trường hợp nặng hơn có thể sử dụng các biện pháp hỗ trợ khác hoặc dùng thêm Mannitol.

Mạn tính: tổn thương chất trắng lan tỏa, hoại tử não khu trú, sa sút trí tuệ và sinh lý thần kinh.

Cách điều trị: thuốc chống co giật, động kinh và chăm sóc nâng đỡ.

Trên tủy sống

Cấp tính: có triệu chứng giống như điện giật, lan dọc từ cột sống xuống dưới.

Cách điều trị: Dexamethasone.

Mạn tính: viêm tủy, dù ít gặp nhưng để lại các di chứng không thể phục hồi.

Cách điều trị: Dexamethasone liều cao và oxy cao áp.

Quá trình điều trị ung thư thường kéo dài từ 3 đến 4 tháng và gây ra rất nhiều tác dụng phụ, do đó, việc duy trì thể trạng trong toàn bộ phác đồ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.

Thể trạng tốt giúp bệnh nhân theo sát phác đồ điều trị ban đầu, tăng tỷ lệ điều trị thành công và hạn chế ung thư tái phát. Theo các chuyên gia y tế, nếu bệnh nhân ung thư có sức khỏe ổn định, những tác dụng phụ do điều trị thường nhẹ và kết thúc nhanh hơn so với những bệnh nhân suy kiệt.

Có nhiều phương pháp cải thiện thể trạng cho bệnh nhân ung thư trong đó chế độ dinh dưỡng và vận động hợp lý thường xuyên được đề cập đến. Cùng với đó, bệnh nhân nên sử dụng thêm các sản phẩm có nguồn gốc thảo dược để tăng cường hệ miễn dịch, bồi bổ cơ thể, giúp bệnh nhân ăn ngon, ngủ sâu, giảm mệt mỏi, stress, vượt qua nỗi ám ảnh về tinh thần, suy kiệt về thể chất sau mỗi đợt hóa xạ trị.

Trong đó nghệ vàng, tam thất và tảo nâu đã được các nhà khoa học chứng minh có chứa các hoạt chất có tác dụng chống oxy hóa mạnh, tìm diệt gốc tự do, thúc đẩy sự chết tự nhiên của tế bào ung thư, ức chế khối u phát triển và xâm lấn, giảm bớt tác dụng phụ sau hóa xạ trị

Tuy nhiên, việc dùng trực tiếp củ nghệ và tam thất ít hiệu quả do Curcumin khó tan, hấp thu kém, còn hàm lượng Saponin trong tam thất không cao.

Để khắc phục vấn đề đó, các nhà khoa học Việt đã chế tạo Phức hệ Nano FGC gồm Fucoidan trong tảo nâu, Saponin trong tam thất và Curcumin trong nghệ vàng, để sản xuất thành sản phẩm CumarGold Kare giúp nâng cao thể trạng, ngăn ngừa suy kiệt sau hóa xạ trị cho bệnh nhân ung thư.

Xạ trị kết hợp sử dụng Cumargold Kare sẽ cho hiệu quả tốt hơn

Cumargold Kare được nhiều bệnh nhân ung thư tin tưởng

Cấu trúc Nano đặc biệt giúp tăng độ tan của Curcumin lên hơn 4000 lần, bảo vệ các hoạt chất, đưa curcumin vào máu dễ dàng, giúp phát huy tối đa hiệu quả của cả ba hoạt chất, so với việc chỉ sử dụng riêng lẻ từng thành phần.

Bước đầu, CumarGold Kare đã được các Y bác sĩ Học Viện Quân Y chứng minh hiệu quả bằng các nghiên cứu tiền lâm sàng trên các dòng tế bào ung thư khác nhau.

Để được tư vấn về bệnh ung thư, độc giả vui lòng gọi tổng đài miễn cước 1800.1796 hotline 091.500.1796

Trên đây là một số tác dụng phụ mà xạ trị để lại qua quá trình trị liệu. Mặc dù vậy, xạ trị vẫn là một sự lựa chọn phổ biến trong quá trình điều trị ung thư bởi khả năng điều trị hoàn toàn mà nó mang lại.

Mong rằng những thông tin này đã giúp các bạn hiểu rõ hơn về xạ trị, chúc các bạn luôn mạnh khỏe.

>